Thông điệp Ecclesia de Eucharistia của ĐGH Gio-an Phao-lô II là dịp tốt cho chúng ta kiểm điểm lại cách sống mầu nhiệm này. Trong thời gian bốn mươi năm sau Công Đồng Va-ti-ca-nô II, đã có nhiều thay đổi về phụng vụ, thánh nhạc, kiến trúc các nhà thờ, cách tham dự các nghi lễ v.v.. Chắc hẳn những thay đổi đó là do ảnh hưởng của cách hiểu và sống bí tích Thánh Thể. Vì vậy, thiết tưởng đọc và tìm hiểu thông điệp này là điều bổ ích và cần thiết.
Dẫn nhập
ĐGH phản ánh một số thông tin từ nhiều nơi trên thế giới như Mỹ, Ấn Độ, Nam Mỹ v.v… Qua những thông tin này, ngài cho thấy ý nghĩa của mầu nhiệm Thánh Thể bị thu gọn lại trong một vài hình thức hạn hẹp, như coi Thánh Thể là một cuộc họp thân hữu mang tính vui tươi sống động, hơn là nơi cử hành mầu nhiệm Chúa Ki-tô, Đấng cứu chuộc loài người. Trong bầu khí này, ý nghĩa của sự thiêng thánh và cuộc tưởng niệm hy lễ của Chúa không còn nữa (x số 10). Nhiều nơi có khuynh hướng coi đây là những buổi gặp gỡ mang tính đại kết và chấp nhận cho các người ngoài công giáo rước lễ, viện cớ là tạo cơ hội xích lại gần nhau hơn giữa các anh em thuộc các Giáo hội ly khai. Lý luận như thế là hiểu sai và mơ hồ về nội dung đức tin và thừa tác vụ của bí tích Thánh Thể. Về điểm này, ĐGH viết: “Hội thánh được sinh ra từ mầu nhiệm Vượt Qua. Chính vì lý do này mà Thánh Thể, bí tích cao cả của mầu nhiệm Vượt Qua nằm ở điểm trung tâm của Hội thánh.” (số 3)
Hội thánh được nuôi dưỡng và soi sáng nhờ Đức Ki-tô. Bất cứ ở nơi nào Hội thánh cử hành Thánh Thể thì một cách nào đó, người tín hữu có thể sống lại kinh nghiệm của hai môn đệ trên đường Em-mau: “Mắt họ được sáng ra và họ nhận ra Người.” (Lc 24,31) (số 4)
Ở đây ĐGH nhấn mạnh đến mầu nhiệm đức tin, bởi vì Hội thánh sống bí tích Thánh Thể như uống từ một nguồn suối đem lại sức sống cho mình, chứ không phải như một cách diễn tả hay đúc kết hoạt động của mình. Nếu Thánh Thể phát xuất từ mầu nhiệm Phục Sinh thì mầu nhiệm này nhằm nói với ai hoàn toàn sống theo mầu nhiệm đó rằng chính là nhờ cuộc Thương Khó và sự Phục Sinh của Chúa Ki-tô mà chúng ta đón nhận được hiệu quả của ơn cứu chuộc. Mối dây liên hệ thiêng liêng với Chúa Giê-su là nòng cốt cho các buổi họp mừng Thánh Thể.
Chương I: Mầu nhiệm đức tin
Trong thánh lễ, sau lời truyền phép, chúng ta hát: “Chúng con loan truyền Chúa chịu chết, chúng con tuyên xưng Chúa sống lại, chúng con đợi chờ ngày Chúa quang lâm. ”Câu hát đó cho chúng ta thấy hành vi hiến tế của Chúa Giê-su là điểm trung tâm cuộc gặp gỡ của chúng ta. Câu hát đó ở thì hiện tại và do đấy không phải chỉ hoàn toàn là một sự khơi gợi lại dĩ vãng, một kỷ niệm về cuộc hiến dâng của ngày hôm qua như ĐGH nói: “Trong Thánh Thể, Chúa Giê-su chứng tỏ rõ ràng một tình yêu cho đi tới cùng (x Ga 13,1), một tình yêu không có giới hạn.” (số 11)
Việc hiến dâng chính mình bằng “thân xác bị trao nộp” và máu đổ ra cho “muôn người được ơn cứu độ” đã trở thành hy lễ dâng tiến cho thế gian được sống. Từ hy lễ gợi cho chúng ta sự đau đớn. Đó là giá phải trả để chuộc lấy sự tự do và trong trắng cho chúng ta. Không có đời sống Ki-tô hữu, nếu không có sự hiến thân thúc đẩy chúng ta hy sinh bản thân để hiệp thông với cuộc dâng hiến của Đức Ki-tô cho Chúa Cha và anh em mình. Vì vậy, tưởng nhớ đến hy lễ của Chúa Giê-su là nhớ lại rằng Người ở đó để lấy lại tính năng động và giúp chúng ta gỡ mình ra cho khỏi tính thích chiếm hữu và từ chối các mối lợi riêng để hiệp thông với Người trong mầu nhiệm Phục Sinh. Sự hiện diện đích thực của Chúa Giê-su trong bí tích Thánh Thể, việc biến đổi bản thể bánh và rượu là những sự việc đầy tính năng động. Sự hiện diện này bắt đầu từ cuộc Thương Khó qua cuộc Phục Sinh tới cuộc Vinh Thắng hoàn toàn. Tính năng động của ơn cứu độ hiện rõ trong hy tế Thánh Thể của Chúa Giê-su như ĐGH viết: “Hiệu năng ban ơn cứu độ của hy tế được thực hiện đầy đủ, khi Mình và Máu Chúa được tín hữu lãnh nhận qua việc rước lễ.” (số 16)
Rước lễ đúng ra là hiệp thông, như từ Communio dùng để chỉ công việc này. Rước lễ là rước Mình và Máu thánh Chúa tức là hiệp thông với Chúa và anh em đồng loại. Vì vậy, rước lễ là hành vi làm cho ý nghĩa của thánh lễ được nên hoàn hảo, thành ra hễ đi lễ là phải cố làm sao cho có điều kiện bên trong cũng như bên ngoài để rước lễ.
Rước lễ là một việc đòi người lãnh nhận phải ở trong tình trạng ơn nghĩa và liệu cho lòng trí được sẵn sàng. Xưa kia, khi các môn đệ nghe Chúa Giê-su nói thịt của Người thật là của ăn và máu của Ngươ thật là của uống (Ga 6,55), nhiều thính giả đã bỏ ra về. Người còn nói thêm: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi đến và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy.” (6,57)
Thánh Ephrem (Ép-rem) cũng lập lại tương tự những lời này như sau: “Tất cả anh em hãy cầm lấy mà ăn. Đây đích thật là Mình Thầy; ai ăn sẽ được sống muôn đời.” (Bài giảng số 4 về Tuần Thánh)
Sống kết hợp với Chúa Giê-su trong bí tích Thánh Thể, gắn bó mật thiết với sự sống vĩnh cửu không làm cho các người tin Chúa xa lánh trần gian mà trái lại càng thúc đẩy họ góp phần vào việc xây dựng xã hội trấn gian, như lời trong Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng: “Một tia sáng của thành Giê-ru-sa-lem trên trời xuyên qua các đám mây bao phủ lịch sử chúng ta và chiếu sáng con đường chúng ta đi. Vinh quang đó thúc đẩy bước tiến của chúng ta trong lịch sử, làm nẩy sinh niềm hy vọng sống động trong sự tận tâm hàng ngày của mỗi người đang đảm trách các nghĩa vụ của mình. Điều đó không làm yếu đi mà càng thôi thúc ý thức trách nhiệm của chúng ta đối với trần gian.” (số 39)
Ở đây, ĐGH gợi lại nhiều vấn đề như hòa bình, liên đới, bảo vệ sự sống, toàn cầu hóa, rồi kết luận: “Chính trong thế giới này, niềm hy vọng của chúng ta phải tỏa sáng. Cũng vì lý do đó, Chúa đã muốn ở lại với chúng ta trong bí tích Thánh Thể bằng cách làm cho sự hiện diện của Người trong bữa ăn và trong hy tế trở nên lời hứa đổi mới nhân loại nhờ tình yêu của Người. (số 19-20)
Cũng trong chiều hướng đó, ĐGH trích dẫn thêm thánh Gio-an Kim Khẩu: “Bạn muốn tôn kính Mình Chúa Ki-tô ư ? Bạn đừng khinh bỉ khi thân thể đó trần truồng. Bạn đừng tôn kính thân mình đó ở đây trong nhà thờ, qua những vải vóc tơ lụa, trong khi bạn để thân mình đó ở bên ngoài chịu rét mướt và thiếu quần áo. Thật vậy, Đấng đã nói: “Này là Mình Thầy” và Đấng đã thực hiện điều ấy khi nói ra cũng là Đấng đã nói: “Xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn… và mỗi lấn các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất này là các ngươi đã không làm cho Ta vậy.” (Mt 25, 42.45) Nào có lợi ích gì, khi bàn thờ của Đức Ki-tô đầy bình vàng, còn chính Người lại chết đói ? Bạn hãy bắt đầu bằng việc cho người đói ăn no, rồi với cái còn lại, bạn hãy trang hoàng bàn thờ.” (Gio-an Kim Khẩu, Bài giảng về TM theo thánh Mt 50,3-4)
Chương II: Thánh Thể xây dựng Hội thánh
Người công giáo được gọi là người di lễ, và không đi lễ là cắt đứt liên lạc với cộng đồng Ki-tô hữu. Đi lễ là luật buộc của Hội thánh từ Công Đồng La-tê-ra-nô II năm 1215. Là công giáo và tham dự thánh lễ đi dôi với nhau. Người ta thường dựa vào việc đi lễ hay không đi lễ để định mức thịnh suy của Hội thánh, (tuy còn phải căn cứ vào lối sống theo Tin Mừng và số người lãnh bí tích Thanh Tẩy nữa). Công Đồng xem ra cũng đồng tình với ý tưởng này khi viết: “Hội thánh tiến triển trong sự hiệp thông mang tính bí tích với Con Thiên Chúa, Đấng đã hy sinh vì chúng ta… Anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy… Mỗi khi anh em uống, hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy.” (1 Cr 11, 24-25; x Lc 22,19)
“Nhờ kết hợp với Đức Ki-tô, dân của Giao Ước mới thay vì khép kín, đã trở thành một bí tích cho nhân loại, một dấu hiệu và dụng cụ ơn cứu độ, ánh sáng cho thế giới và muối cho trần gian. (x Mt 5,13-16) nhằm cứu chuộc mọi người.” (số 22)
“Vì thế, Thánh Thể xuất hiện như nguồn sinh lục và chóp đỉnh của mọi cuộc loan báo Tin Mừng, bởi vì mục tiêu của công cuộc này là hiệp nhất loài người với Chúa Ki-tô và trong Người, hợp nhất với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.” (số 22)
Đời sống trong Hội thánh bắt đầu từ bí tích Thanh Tẩy và Thêm Sức, được củng cố nhờ bí tích Thánh Thể. Qua bí tích Thánh Thể, Chúa Ki-tô hiện diện trong Dân Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần đến linh hoạt và hợp nhất cộng đồng tín hữu đồng thời hiến thánh bánh và rượu thành Mình và Máu thánh Chúa Ki-tô. Các khát vọng bình an và hợp nhất của loài người được đáp ứng trong món quà Chúa Giê-su tặng ban qua bí tích Thánh Thể: “Ân sủng của Đức Ki-tô và Thánh Thần của Người mà chúng ta lãnh nhận khi rước lễ, thực hiện một cách viên mãn và phong phú những khát vọng hiệp nhất trong tình huynh đệ. Những khát vọng này tiềm ẩn sâu xa trong tâm hồn con người, đồng thời nâng cao kinh nghiêm về tình huynh đệ, một tình huynh đệ vượt trên mọi kinh nghiệm thông thường của con người trong môt bữa ăn.” (số 24)
Hội thánh ở đó như một dấu hiệu hiệp nhất mọi người với nhau: “Những mầm mống chia rẽ mà kinh nghiệm hàng ngày cho thấy cắm rễ sâu trong nhân loại như là hiệu quả của tội lỗi đã bị ngăn chặn bởi quyền năng đem lại sự hiệp nhất của thân mình Chúa Ki-tô. Trong khi xây dựng Hội thánh, Thánh Thể kiến tạo một cộng đồng nhân loại.” (số 23)
Tiếp đó, ĐGH nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tôn sùng Thánh Thể ngoài thánh lễ. Lòng tin vào sự hiện diện đích thật của Chúa Giê-su ngoài thánh lễ là nét đặc biệt của Hội thánh công giáo.
Chương 3: Đặc tính tông đồ và chiều kích Hội thánh của Thánh Thể
Có một sự tương đồng giữa Thánh Thể và Hội thánh. Ngay từ đầu, Thánh Thể được Đức Ki-tô giao cho các Tông Đồ. Hội thánh cử hành Thánh Thể như các Tông Đồ đã tin. Thánh Thể được trao lại cho các đấng kế vị các ngài và cho các linh mục hiệp nhất với các giám mục thông hiệp cùng Tòa thánh. Thông điệp Ecclesia de Eucharistia nhấn mạnh đến mối dây liên hệ đặc biệt nối kết linh mục với việc cử hành Thánh Thể. Ngay từ đầu thông điệp, Đức Gio-an Phao-lô II đã nói rất rõ về vị thừa tác cử hành Thánh Thể như sau: “Chính vị ấy nói lên, với sức mạnh của Đức Ki-tô từ trong phòng Tiệc ly: “Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì anh em. Này là chén Máu Thầy đổ ra vì anh em…” Linh mục nói những lời này, hay đúng hơn, để cho Đấng đã nói những lời đó tại phòng Tiệc ly dùng tiếng nói của mình. Người muốn rằng lời ấy phải được lặp lại qua mọi thế hệ, do tất cả những ai thông phần vào chức vụ linh mục trong Hội thánh của Người (số 5)
Chính vì thế chỉ một mình linh mục đọc các lời trong Kinh Tạ ơn. Nhân danh sứ vụ tông đồ được ban cho trong bí tích Truyền Chức, linh mục, thừa tác viên Thánh Thể, cử hành nhân danh Chúa Ki-tô, được đồng hóa với chính Chúa Ki-tô trong lời nói và việc làm. Cùng với Chúa Ki-tô, linh mục là người chủ động dâng của lễ, như nhiều kinh Tạ ơn chứng tỏ, nhất là kinh tạ ơn III:”Xin Cha đoái nhìn hiến lễ của Hội thánh và nhận đây chính là của lễ Con Cha đã dâng hiến để nhân loại được giao hòa với cha. Và khi chúng con được Mình và Máu Con Cha bổ dưỡng, xin cho chúng con trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Ki-tô.”
Đặc tính tông đồ của Thánh Thể được tập trung ở đây, nơi con người linh mục: “Thừa tác viên này là một quà tặng cộng đoàn nhận được nhờ việc kế vị tông truyền có từ thời các Tông Đồ.” (số 19) Linh mục hiện hữu là để cử hành Thánh Thể. Đó là lý do chính yếu, là điểm trung tâm của bí tích truyền chức, khi bí tích Thánh Thể được thiết lập cùng với chức linh mục trong bí tích này. Vì vậy, ĐGH không công nhận lễ của Giáo Hội Cải Giáo và Tin Lành vì họ không được truyền chức theo dòng truyền thống kế tiếp từ các Tông Đồ. Ở đây, ngài cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc cử hành thánh lễ mỗi ngày của các linh mục. Dù trong một nhà thờ vắng vẻ, ít người tham dự, thánh lễ vẫn có một chiều kích phổ quát mang tính toàn cầu, và là một nét biểu dương căn tính của cộng đồng những người đã lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. “Quả vậy, giáo xứ, cộng đồng của những người đã lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy diễn tả và củng cố căn tính của mình, nhất là qua việc cử hành hy lễ tạ ơn.” (số 32)
Chương IV: Bí tích Thánh Thể và sự hiệp thông
“Trong cuộc lữ hành trên trần thế, Hội thánh được mời gọi giữ gìn và cổ võ sự hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa và giữa các tín hữu với nhau.” (số 34) Trong bí tích Thánh Thể, có sự hiệp thông khi rước lễ. Rước lễ là đỉnh cao trong sinh hoạt bí tích và đời sống Ki-tô hữu. Rước lễ kết hợp cách hoàn hảo sự hiệp thông với Thiên Chúa là Cha, nhờ sự đồng nhất với Con Một là Chúa Con, do quyền năng Ngôi Ba là Chúa Thánh Thần. Các tín hưu được đối thoại vói Ba Ngôi Thiên Chúa là nhờ Chúa Con.
Về điểm này, ĐGH lưu ý: “Việc cử hành Thánh Thể không phải là khởi điểm của sự hiệp thông. Bí tích này giả thiết đã có sự hiệp thông, một sự hiệp thông được kiện toàn và củng cố nhờ việc cử hành.” (số 35) Sở dĩ như vậy, vì trước khi hiệp thông trong Thánh Thể, đã phải có sự hiệp thông trong giáo huấn của các Tông Đồ, trong các bí tích và trong phẩm trật của Hội thánh. Dó là điều được gọi là chiều kích hữu hình và tình trạng ân sủng thuộc phạm vi vô hình.
Điều này thuộc lương tâm có liên hệ với bí tích hòa giải. Hòa giải là tiền đề và điều kiện tối cần để được rước lễ. Như vậy, muốn cử hành thánh lễ cách đích đáng, phải tôn trọng những yếu tố thuộc bí tích Thanh Tẩy và Truyền chức mà nếu không có thì khống thể cử hành bí tích Thánh Thể cách đích thật và đúng đắn được, vì “bi tích Thánh Thể không chấp nhận sự giả dối”. (số 38)
Mỗi buổi cử hành Thánh Thể vượt ra ngoài khuôn khổ cộng đoàn được qui tụ như viết trong thông điệp: “Một cộng đoàn thánh thể đích thật không thể tự khép kín và coi mình như đủ, trái lại cần phải hòa hợp với những cộng đoàn khác.” (số 39)
Bởi thế, mỗi khi tham dự thánh lễ là chúng ta hiệp thông với toàn thể Dân Chúa trên thế giới. Ngày Chúa nhật là ngày của Hội thánh, ngày biểu lộ sự hiệp nhất và hiệp thông. Luật buộc đi lễ ngày Chúa nhật và sống mối hiệp thông đại đồng này vẫn còn giá trị.
Chương VI: Sự trang trọng của bí tích Thánh Thể
Thánh Thể là bí tích vô cùng cao quí. Vì vậy, phải dành cho bí tích này một sự trang trọng đặc biệt, mỗi khi cử hành thánh lễ hoặc đưa Mình Thánh Chúa cho người già nua, ốm đau bệnh tật. Chúng ta nên nhớ lại bình dầu thơm đắt tiền bà Ma-ri-a Mác-đa-la đã dùng để xức vào chân và người Chúa Giê-su. Cử chỉ đó biểu lộ lòng quí mến và sự kính trọng đối với thân thể Đức Ki-tô. Vì vậy, chúng ta phải hết sức tỏ lòng cung kính Mình Thánh Người.
Vẻ trang trọng cung kính của chúng ta biểu lộ lòng chúng ta quí mến ơn huệ cao cả Chúa Giê-su ban cho Hội thánh. Phụng vụ Ki-tô giáo phát sinh từ những lời và cử chỉ của Chúa Giê-su. Đây là bữa tiệc thánh mang tính hy lễ, vì là máu đổ ra trên đồi Gon-gô-tha.
Vì thế, việc cử hành phụng vụ phải khơi lên vẻ trang trọng của biến cố được cử hành và không được đơn giản hóa đến nỗi có nguy cơ biến thành một buổi gặp gỡ thông thường giữa một nhóm bạn thân với nhau. Ở đây ĐGH gợi lại tất cả những gì liên quan đến nghệ thuật thánh bên Giáo Hội Đông Phương qua bữa tiệc trong họa phẩm Chúa Ba Ngôi của Roublev: “Điều này giả định và đòi hỏi, như trong họa phẩm của Roublev về Chúa Ba Ngôi, Hội thánh phải có chất thánh thể sâu xa, nơi đó việc tham dự vào mầu nhiệm Đức Ki-tô trong tấm bánh được bẻ ra, chìm sâu trong sự hợp nhất vô song giữa Ba Ngôi Thiên Chúa và biến Hội thánh thành hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi.”
Tuy vậy, vẫn phải coi chừng với hình ảnh bữa tiệc trong bí tích Thánh Thể. Thánh Thể là bữa tiệc thật, nhưng không phải chỉ có tiệc mà còn có gì khác nữa. Vì thế, không nên chỉ nhấn mạnh đến tiệc mà bỏ qua những yếu tố khác để bày ra những kiểu cách cử hành ngoại lệ, khiến ĐGH phải lên tiếng cảnh báo; “Phụng vụ thánh diễn tả và cử hành một đức tin duy nhất mà mọi người tuyên xưng. Vì là gia sản của toàn thể Hội thánh, nên các Hội thánh địa phương không thể định đoạt cách riêng rẽ, tách rời khỏi Hội thánh toàn cầu.” (số 57)
Linh mục chủ tọa thánh lễ nhân danh Chúa Giê-su và phục vụ thay mặt cho mọi người, có bổn phận đặc trách phụng vụ và mối hiệp thông. Phụng vụ không phải là tài sản của riêng ai cũng không phải của cộng đoàn đang cử hành thánh lễ. Vì vậy, phải làm nổi bật ý nghĩa của Hội thánh phổ quát trong khi cử hành phụng vụ. Lễ nào cũng là lễ được cử hành khắp nơi trên thế giới vậy.
Chương VI: Đức Ma-ri-a, mẫu gương tôn sùng Thánh Thể
GH so sánh thái độ của Đức Mẹ đối với thân mình Chúa ki-tô và tác phong của các Ki-tô hữu hiện nay giữa câu: “Hãy làm việc này để tưởng nhớ đến Thày” với câu: “Người bảo gì, các anh cứ làm nhu vậy.” Ngay cả trước khi bí tich Thánh Thể được thiết lập, Đức Mẹ đã cưu mang thân thể Đức ki-tô trong mình. Cái nhìn ngây ngất của Đức Mẹ khi ngắm Hài Nhi Giê-su mới sinh trong vòng tay âu yếm của Người, nào chẳng phải là mẫu gương tuyệt vời cho chúng ta noi theo mỗi khi rước lễ đó hay sao ?: “Suốt thời gian sống bên cạnh Đức Ki-tô chứ không chỉ nguyên ở đồi Can-va-ri-ô, Đức Ma-ri-a đã xem chiều kích hy tế của Thánh Thể như là của mình.” (số 56)
Đức Mẹ đã sống bí tích Thánh Thể trước thời gian, nghĩa là đã hiệp thông bằng lòng ao ước và sự hiến dâng trước khi Thánh Thể được các Tông đồ cử hành để tưởng nhớ đến cuộc Thương Khó.
Kết luận
ĐGH đã dùng những lời lẽ sau đây để kết thúc thông điệp. Những lời này mang tính cá nhân nhưng cũng là những lời động viên mạnh mẽ chúng ta sống bí tích Thánh Thể như ngài, một vị đã sống và hoan toàn tin tưởng ở hiệu lực dồi dào và cao quí của bí tích này: “Trong Bánh Thánh và Rượu Thánh, mỗi ngày đức tin của tôi nhận ra Vị Lữ Khách Thần Linh đã cùng đồng hành với hai môn đệ trên đường Em-mau, và đã làm cho mắt họ nhìn thấy ánh sáng và tâm hồn họ chứa chan niềm hy vọng mới (x Lc 24,13-35).
Anh chị em thân mến, tôi chia sẽ lòng tin của tôi đặt nơi bí tích Thánh Thể với anh chị em và chứng thực rằng đây là kho báu của Hội thánh, là con tim của thế giới, là bảo chứng của sự hoàn hảo mà mọi người nam nữ khát khao dù không ý thức.” (số 59)
Trong dấu hiệu khiêm tốn của bánh và rượu biến đổi thành Mình và Máu của Người, Đức Ki-tô đồng hành với chúng ta như nguồn sức mạnh và của ăn đàng; Người biến chúng ta thành những nhân chứng của niềm hy vọng cho anh chi em chúng ta.” (số 62)
L.m.An-rê Đỗ Xuân Quế o.p.
số lần đọc: 2606


– Cộng đoàn hành hương tại La Vang đang thể hiện một Giáo Hội hiệp thông. Mẹ La Vang đang giang rộng cánh tay ôm ấp những người con đến từ ba miền đất nước cũng như từ hải ngoại. Nơi đây, hết thảy đều là con của Đức Mẹ. Không còn phân biệt sang hèn, Nam Bắc. Mọi người chào hỏi gặp gỡ nhau trong tình thân thiện. Tất cả cùng chung một đức tin nơi Thiên Chúa, chung một tình mến nơi Đức Mẹ. Khi những bài thánh ca được xướng lên, mọi miệng lưỡi đều chung lời ngợi ca, mọi con tim đều chung niềm thổn thức, làm thành một bài ca tuyệt diệu, không chỉ diễn tả bằng lời, nhưng còn từ chính những tấm lòng của mọi tín hữu. Sự hiện diện của Đức Hồng Y đặc sứ của Đức Thánh Cha đã nối kết mọi tín hữu Việt Nam với vị Cha Chung của Giáo Hội, thể hiện tình hiệp thông sâu xa với vị Đại diện Chúa Giêsu ở trần gian. Tại La Vang, mọi người sống tình huynh đệ của một gia đình. Nơi Đức Mẹ, mọi tín hữu thể hiện niềm xác tín cậy trông. Đó chính là hình ảnh của một Giáo Hội hiệp thông. Hiệp thông với Mẹ, cùng Mẹ đến với Chúa Giêsu để rồi chính Chúa Giêsu sẽ dẫn đưa chúng ta với Chúa Cha. Ôi tình hiệp thông Giáo Hội thật mênh mông tuyệt diệu!