Luật độc thân linh mục hiện nay đang gặp những trở ngại đôi khi rất trầm trọng, trong các điều kiện chủ quan và khách quan của linh mục. Thượng Hội Đồng đã cứu xét, nhưng nghĩ rằng có thể vượt qua được, nếu tạo ra những điều kiện thích đáng, nghĩa là tăng thêm cố gắng sống đời nội tâm, nhờ cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, từ bỏ, mến Chúa, yêu người và những trợ giúp khác để tạo nên thế quân bình trong các mối tương giaovới giáo dân, linh mục, giám mục, các đoàn thể trong giáo xứ và cộng đồng tín hữu.
Theo các sách Tin Mừng, khi Đức Giê-su gọi các môn đệ đầu tiên để biến các ông thành những “kẻ lưới ngưởi” (Mt 4,19 ; Mc 1,17 ; x Lc 5,10), các ông đã bỏ mọi sự và đi theo Người (Lc 5,11 ; x Mt4,20.22 ; Mc 1,18-20).
Một hôm ông Phê-rô hỏi Đức Giê-su: “Phần chúng con, chúng đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy chúng con sẽ được gì?” (Mt 19,27 ; Mc 10,28 ; x. Lc 18,28) Đức Giê-su kể ra tất cả những gì cần phải dứt bỏ vì Người và vì Tin Mừng (Mc 10,29), nhưng không phải chỉ những dứt bỏ về vật chất như nhà cửa, ruộng vườn mà cả những người mình yêu thích nhất, như cha mẹ, ông bà, anh chị em, con cái, bạn hữu (Lc 18,29).
Ở đây có vấn đề các ơn gọi khác nhau. ĐứcGiê-su đã không đòi các môn đệ của Người phải triệt để từ bỏ đời sống gia đình, dù Người đòi mọi người phải dành chỗ nhất trong trái tim mình cho Người, khi Người nói: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy thì không xứng với Thầy.” (Mt 10,37) Sự đòi hỏi phải từ bỏ cách triệt để là dành riêng cho đời tông đồ hay đời thánh hiến.Khi được Đức Giê-su gọi, hai người conông Dê-bê-đêlà Gia-cô-bê và Gio-anđã không chỉ bỏ thuyền,nơi các ông đang vá lưới,mà còn bỏ cả cha, người đang ở với các ông lúc bấy giờ (Mt 4,22; x Mc 1,20).
Những nhận xét trên giúp chúng ta hiểu tại sao có luật của Hội thánh về bậc độc thân. Thật thế, Hội thánh đã nghĩ và còn nghĩ rằng độc thân linh mục nằm trong cái hữu lý của đời thánh hiến, và hoàn toàn thuộc về Đức Ki-tô, là nhằm thực hiện cách ý thức lệnh truyền về đời sống thiêng liêng và công cuộc rao giảng Tin Mừng.

Trong Tin Mừng Mát–thêu, ở đoạn nói về việc từ bỏ người thân, Đức Giê-su dùng kiểu nói của người sê-mít để chỉ một sự từ bỏ khác về Nước Trời là từ bỏ việc lập gia đình: “Có những người không kết hôn vì Nước Trời.” (Mt 19,12), nghĩa là tự nguyện sống độc thân để có thể hoàn toàn phục vụ Tin Mừng Nước Thiên Chúa” ( Mt4,23 ; 9,35 ; 23,34)
Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Co-rin-tô, thánh Phao-lô quả quyết ngài đã dứt khoát chọn con đường này và cho thấy sự ăn ý chặt chẽ với quyết định trên: “Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì. Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa. Họ tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời. Họ tìm cách làm đẹp lòng vợ. Thế là lòng họ bị chia đôi.” (1 Cr 7,32-34) Đã hẳn, ai được gọi làm linh mục thì không nên bị chia đôi. Công Đồng nói: “Tình nguyện sống bậc độc thân,theo truyền thống, phát xuất từ Đức Ki-tô. Đó là điều đặc biệt thích hợp với đời sống linh mục. Nó vừa là dấu hiệu vừa là động lực của đức ái do tình mục tử, một nguồn mạch sức sống thiêng liêng phong phú trên thế gian.” (PO 16)
Trong Hội thánh Đông Phương, có nhiều linh mục lập gia đình cách chính đáng, theo luật Hội thánh của họ. Nhưng các giám mục và một số các linh mục của họ vẫn sống độc thân. Sự khác biệt về kỷ luật gắn liền với những điều kiện về thời gian và không gian theo sự xét đoán của Hội thánh, được giải thich do sự kiện này, như Công Đồng nói, là sự tiết dục hoàn toàn không phải là điều đòi hỏi do chính bản tính chức linh mục. Nó không thuộc về yếu tính của chức linh mục xét theo bí tích truyền chức, và không bị áp đặt một cách tuyệt đối cho mọi Hội thánh. Tuy nhiên, nếu xét theo sự xứng hợp hay tính nên chăng thì tiết dục rất thích hợp với những đòi hỏi của bí tích truyền chức. Nó hợp với tính hữu lý của việc nên thánh.
Lý tưởng cụ thể của bậc hiến thánh này là Đức Ki-tô, gương mẫu của mọi người, đặc biệt của các linh mục. Đức Ki-tô đã sống độc thân và đã cống hiến tất cả sức lực mình cho việc rao giảng Nước Thiên Chúa, và phục vụ loài người với tấm lòng rộng mở. Người đã chọn sống độc thân vì Nước Trời (Mt 19,22) Do gương sáng của mình, Đức Ki-tô đã đặt ra một định hướng, và định hướng này đã được nhiều người noi theo. Dựa vào các sách Tin Mừng, người ta thấy Nhóm Mười Hai là những người đầu tiên thông phần chức linh mục của Đức Ki-tô. Các ông đã từ bỏ đời sống gia đình để đi theo Đức Ki-tô. Các sách kể trên không bao giờnói đến vợ con của các ông, dù thừa biết ông Phê-rô trước khi được Đức Giê-su gọi, đã có gia đình (Mt 8,14 ; Mc 1,30; Lc 4, 38)

Đối với chức linh mục mới, Đức Giê-su không công bố luật, nhưng đề nghị lý tưởng độc thân. Lý tưởng này mỗi lúc một được xác định trong Hội thánh. Trong giai đoạn đầu quảng bá và phát triển Ki-tô giáo, một số đông linh mục có gia đình. Các ông được tuyển chọn và truyền chức theo nếp truyền thống Do thái giáo. Trong các thư gửi cho hai môn đê Ti-mô-thê và Ti-tô (1 Tm 3,2-3 ; Tt 1,6) tông đồ Phao-lô yêu cầu những ai được chọn làm linh mục phải là những người cha gương mẫu, những người chồng chỉ có một đời vợ. Đó là thời kỳ Hội thánh đang được tổ chức, vả có thể nói là đang trong thời kỳ thử nghiệm, để xem điều gì thích hợp với lý tưởng và lời khuyên của Đức Ki-tô hơn cả, xét về kỷ luật sống. Từ kinh nghiệm và do suy nghĩ, kỷ luật về bậc độc thânngày thêm sáng tỏ cho đến khi thành luật trong Hội thánh Tây Phương. Đó không phải chỉ là hiệu quả của một sự kiện pháp lý và kỷ luật, mà chính là sự chín muồi của Hội thánh trong vấn đề nên chăng của bậc độc thân linh mục, vì các lý do không những có tính lịch sử và thực hành, mà còn phát xuất từ nhận thức thích hợp mỗi lúc một rõ hơn, giữa bậc độc thân và những đòi hỏi của chức linh mục.
Công Đồng Va-ti-ca-nô II nêu lên những lý do về sự xứng hợp mật thiết giữa bậc độc thân và chức linh mục như sau: “Bằng cách giữ mình đồng trinh hay sống độc thân vì Nước Trời, các linh mục tận hiến cho Chúa Ki-tô một cách mới mẻ đặc biệt. Các vị sẽ gắn bó với Người hơn mà lòng không bị phân chia. Các vị được tự do hơn để tận hiến cho Người và nhờ Người mà phục vụ Thiên Chúa và loài người, sẵn sàng, mau mắn hơn trong việc phục vụ triều đại của Người và công trình tái sinh sức sống thiêng liêng, với khả năng đón nhận tình phụ tử thiêng liêng rộng rãi hơn trong Đức Ki-tô. Khi gợi lại hôn lễ nhiệm mầu, hôn lễ giữa Hội thánh với Đấng Phu Quân duy nhất là Đức Ki-tô, các linh mục trở thành biểu hiệu sống động của thế giới tương lai, một thế giới đã hiện diện nhờ đức tin và đức ái nơi con cái loài người, những kẻ khi sống lại sẽ không còn lấy vợ lấy chồng nữa.” (PO 16 ; x Pastores do vobis 29,50)
Đó là những lý do khiến chúng ta nâng cao tâm hồn lên. Có thể tóm tắt những lý do chính yếu đó như sau: gắn bó hoàn toàn với Đức Ki-tô, yêu mến và phục vụ Người với một tấm lòng không bị chia đôi (1 Cr 7,32-33), luôn sẵn sàng phục vụ vương quốc của Người và hoàn thành những chức vụ của linh mục trong Hội thánh, sống một đời sống giống với đời sống ở bên kia thế giới một cách gương mẫu hơn. Điều đó có giá trị trong mọi thời, và được coi như lý do và tiêu chuẩn cho mọi phán đoán và lựa chọn phù hợp với lời kêu mời từ bỏ mọi sự để theo Đức Giê-su. Vì vậy ThượngHội ĐồngGiám Mục năm 1971 xác quyết: “Luật độc thân linh mục đang có hiệu lực trong Hội thánh la-tinh phải được tuân hành trọn vẹn.” (Ench. Vat. IV, 1219)
Luật độc thân linh mục hiện nay đang gặp những trở ngại đôi khi rất trầm trọng, trong các điều kiện chủ quan và khách quan của linh mục. Thượng Hội Đồng đã cứu xét, nhưng nghĩ rằng có thể vượt qua được, nếu tạo ra những điều kiện thích đáng, nghĩa là tăng thêm cố gắng sống đời nội tâm, nhờ cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, từ bỏ, mến Chúa, yêu người và những trợ giúp khác để tạo nên thế quân bình trong các mối tương giaovới giáo dân, linh mục, giám mục, các đoàn thể trong giáo xứ và cộng đồng tín hữu.
Đó cũng là một thứ thách đố về sự gắn bó và trung thành với lý tưởng Tin Mừng. Vì vậy, dù nhận rằng ĐTC có thể lượng giá vàquyết định điều có thể làm trong ít nhiều trường hợp, Thượng Hội Đồng vẫn tái quả quyết rằng trong Hội thánh la-tinh, việc truyền chức linh mục cho những người có gia đình không được chấp nhận, ngay cả trong những trường hợp đặc biệt. (Ibid. IV, 1220) Hội thánh nghĩ rằng ý thức về một sự hiến thánh hoàn toàn đã chín muồi trong bao thế kỷ, nay vẫn có lý do tồn tại và kiện toàn mỗi ngày một hơn.
Hội thánh biết rõ và nhắc lại cho các linh mục và giáo dân qua Công Dồng rằng việc giữ độc thân rất thích hợp với chức linh mục của Tân Ướcmà Chúa đã ban cho loài người, miễn là tất cả những ai thông phần chức tư tế của Chúa Ki-tô nhờ bí tích truyền chức và toàn thể Hội thánh, khiêm nhường và tha thiết khấn xin (PO 16).
Dù vậy, vẫn phải xin cho được hiểu biết giá trị của bậc độc thân linh mục. Bậc này mang theo một mầu nhiệm, đó là can đảm và tín nhiệm cầu xin trong tư thế gắn bó tuyệt đối với con người và công trình cứu chuộc của Đức Ki-tô với sự từ bỏ triệt để. Chính Đức Ki-tô cũng cho biết là không phải aicũng hiểu được cả. (Mt 19,10-12). Hạnh phúc thay ai hiểu biết và trung thành bước đi trên con đường này.
L.M. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p.
số lần đọc: 10027
Về đời sống độc thân của các linh mục thì theo truyền thống GHCG, các ĐGH đã giữ vững lập trường của GH. Tuy nhiên trong bối cảnh và các xã hội khác nhau ngày nay trên tòan thế giới, luật này cũng nhiều khi gặp những rắc rối hoặc những trở ngại..mà đã đem lại không ìt những điều tai tiếng và thiệt hại cho GH. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng, ngày nay thái độ của một số linh mục có sự khác biệt từ lúc còn trong chủng viện và sau khi được lãnh nhận thiên chức linh mục (đôi khi thấy khác biệt hòan tòan). Lúc là thày thì hết mình vì Chúa, sống xứng đáng với lời khấn húa, nhưng tiếc thay khi được truyền chức linh mục thì tự cho mình là Chúa, tự kiêu, ngạo mạn coi trời bằng vung, coi bàn dân thiên hạ chỉ là bề dưới, ngu si không có trình độ, vì ta đây được học thần học, triết học mà quên rằng giáo dân cũng có nhiều người được đào tạo và cũng được học triết học trong nhà trường và mới đây GH còn mở ra những lớp thần học giáo dân, nên họ cũng trưởng thành và có kiến thức chứ (chưa biết ai hơn ai về vấn đề này) Xin các ngài nghĩ lại Nhiều nơi còn có các cha trẻ dùng phụ nữ trẻ, đẹp làm thư ký, hay quản lý và ở trong giáo xứ(sáng, trưa, chiều..tối) việc này có cần lắm không? Còn có cha thì nhắm vào một số gia đình giàu có, quyền thế thì nhận làm thế này, thế nọ dưới nhiều danh nghĩa.để có sự ràng buộc, gắn bó…. Rốt cuộc:chỉ có Chúa biết (dôi khi lộ qúa giáo dân cũng biết, rồi đem đi chỗ này, chỗ nọ để ém nhẹm hoăc giấu kín) những trường hợp này ở VN có lẽ không ít. Mong rằng qua bài chia sẻ của cha các đấng hãy tự xét mình mà nhớ lại lúc nằm xỏai mình trên bàn thánh trước khi lãnh nhận Thiên chức mà thánh hiến , ăn năn thống hối cuộc đới để tận hiến cho Chúa Giêsu. Lúa chín đầy đồng, xin Chúa sai những thợ gặt chân chính, đạo đức và khiêm nhường như Chúa để các ngài dìu dắt và bảo vệ đòan chiên của Chúa.
Một khi người Công giáo chưa thực sự trưởng thành trong đời sống tâm linh thì họ phải lệ thuộc vào các chức sắc của giáo hội.Do đó,các chức sắc này cứ nghĩ rằng nếu không có họ thì giáo dân sẽ bị thiếu thốn,đói khát của ăn tinh thần.Giao tiếp với Thiên Chúa.con người chỉ cần một tâm hồn đơn sơ,chân thành còn mọi sự hãy để cho Thiên Chúa lo liệu.Theo tôi,người Công giáo VN còn ngây thơ trong việc thờ phượng Thiên Chúa nên còn lệ thuộc vào các chủ chăn.Nhất nhất,cha là số một,nhiều nơi sợ cha hơn sợ Chúa,tâng bốc cha và cha cũng thấy khoan khoái trong lòng và tự nhủ:không có cha thì các ông bà không làm gì được.
Chúng ta hãy cầu nguyện thật nhiều cho các vị GM, LM. Dĩ nhiên trong các đấng có những vị không xứng đáng vì tài hèn sức mọn, lòng đầy những sân si khác vọng, nhưng cũng có rất nhiều vị khiến chúng ta phải nghiêng mình kính phục vì sự trong trắng, đạo đức, kiên cường và lòng mến Chúa yêu người cao độ cũa các ngài. Những vị này rất cần sự quan tâm cầu nguyện cũa chúng ta.
Theo tôi, GM, LM được tôn kính, được trong thị, được yêu mến một cách nhiệt thành và trong trẻo, là bởi vì đời sống trinh khiết , hi sinh, hướng tha trọn vẹn của họ ! Tôi ắt sẽ cảm thấy bớt thiêng liêng rất và rất nhiều, nếu nghĩ rằng vị chủ tế giữa khuya thì ngụp lặn trong chăn với vợ, ngày thì dâng của lễ trước bàn thờ Thánh . Mất điều kiện trinh khiết, thì họ cũng sẽ dễ mất những đức tính khác nữa…. Với tôi, và có thể với nhiều người như tôi, họ cũng chỉ là một nhà kinh doanh Lời Chúa kiếm sống, để nuôi vợ con và ngoi lên khỏi tầng lớp bình dân chân lấm tay bùn mà thôi…
Tôi cho rằng, nếu không chỉ là một mớ lý lẽ đọc hoài nhai hoài tới thuộc, một khi GM, LM “thật sự” cảm nghiệm và thể nghiệm được những điều họ đã thường xuyên giảng thuyết với giáo dân, thì việc sống trinh khiết với họ chắc không khó lắm, vì khi chiêm nghiệm hằng ngày cái tinh túy của tình yêu và đem nó ra thực hành với tha nhân, thì cái ngược lại, cái chất xù xì không tinh túy của tình yêu sẽ chẳng có nhiều cơ hội để trỗi lên dưới dạng giả danh nầy nọ..
Một vị chủ tế trinh khiết hành lễ trước bàn thờ thánh không giống với một vị chủ tế tối qua vừa ngụp lặn trong chăn với vợ con, và lại nữa, những trách nhiệm lằng nhằng và những nhu câu của vợ con đùm đề có cho phép người ta toàn tâm toàn ý với chức vụ thiêng liêng không, hay họ cũng chỉ là một người kinh doanh Lời Chúa để muu sinh . để thoát khỏi cuộc sống giới bình dân, vừa có miệng ăn lại vừa có miệng nói ?
Xin GM, LM nào không chịu nổi đời sống trinh khiết, thì cứ minh bạch bước ra đời thường để khỏi ô danh GHCG và mang tiếng giả hình. Các vị chắc cũng thấy, trong hàng ngũ các vị ,có mấy ai lừa gạt Chúa mà được thong dong thanh thản đến lúc chết đâu ?
Tôi xin nối dài ý kiến một chút nữa:
Tôi nhận thấy rằng “cô đơn” là trạng thái phổ biến của kiếp làm người. Người có “tinh thần cao cấp” cô đơn kiểu khác, người có “tinh thần thứ cấp” cô đơn kiểu khác, (ở đây, tôi chỉ đề cập tới tinh thần chứ không đề cập đến cấp bậc của “học vấn” hay trí tuệ).
Tôi nhận thấy ở có những nỗi cô đơn cao cấp, là cô đơn vì kiên định tìm kiếm lý tưởng để làm mục đích đời mình mà mãi chưa tìm ra, là không có người tri kỷ. Còn nỗi cô đơn cấp thấp thì ta thấy nhan nhãn trong xã hội và người ta đang khỏa lấp nó bằng nhiều cách, hiệu quả nhất là có bạn tình hoặc có chồng có vợ, và người ta tìm cách tụ tập nhau lại để chung chia những cảm xúc bình thường hoặc có khi dễ dãi để tự ảo tưởng rằng mình không cô đơn …
Vậy thì, một GM hoặc LM, hoặc tu sĩ, khi đi tu, có thực sự xác đinh con đường dấn thân cao quý ấy là lý tưởng nhất đời mình chăng? rằng Chúa có là người tri kỷ đáng khao khát nhất đời của mình chăng?
Nếu lý tưởng ấy không là điều thao thức nhất, nếu Chúa không là người tri kỷ đáng khao khát nhất, thì việc họ còn khao khát những điều bình thường giống như người ngoài đời phải xảy ra với họ và làm hao mòn tâm hồn họ. Vì vậy, người đi tu có cần phải hỏi lại rằng : động lực quyết định đi tu của mình xuất phát từ đâu?
Mời đây tại SGN trong 1 buổi sinh hoạt của các giáo lý viên, cha H. đã nêu 1 vấn nạn: không hiểu các cha già ngày xưa huấn luyện giáo dân thế nào mà giáo dân hết lòng với các ngài, các ngài kêu gọi gì cũng được….còn ngày nay các cha kêu gọi thì ít người hưởng ứng………1 GLV (ngoài 40 tuổi) đã trả lời đại ý là: ngày xưa các cha già khó nghèo còn ngày nay các cha khó mà nghèo: xe hơi nhà lầu, tiện nghi vật chất…..ngày xưa các cha già vâng lời GM tuyệt đối còn ngày nay các cha không tuân phục GM, bề trên….ngày xưa các cha già sống khiết tịnh còn ngày nay các cha thế nào thì khỏi phải nói……..như thế nếu LM mà khó nghèo, vâng lời, khiết tịnh thì chắc chắn giáo dân sẽ sống chết với các vị còn ngược lại thì ai cũng biết không cần phải nói ra….
Tôi thấy cũng lạ thật ! Có một số vị đi tu không biết với mục đích gì, mà lúc giao tiếp với họ, tôi nhận thấy họ hay “nhìn chừng nhau”, về ăn hay nói giỏi, xe cô, tiền tài, danh vọng, lợi lộc, rồi lại tỏ vẻ coi thường các chân tu GM, LM, tu sĩ không có quan điểm và lối hành xử thực dụng giống mình.
Họ quên rằng cái mà họ mến chuộng bằng cái tâm phàm tục ấy (họ chỉ mến Chúa bằng lời thôi) chỉ có giá trị với họ vả những kẻ đồng quan điểm với họ có đầy ứ trong xã hội, còn với những người tin và sống vì các giá trị cao cả không đem ra cân đo đong đếm được, những người không dung tục, thì nhìn thấy họ tầm thường và đáng thương hại làm sao ! Khác nào môt người có óc thẫm mỹ kem trét nhòe nhoẹt son phấn trên mặt và tự tin với điều đó vậy !
Cũng có những GM kém phẩm chất , không đáng được yêu thương tôn trọng như GM Nhơn, Tri, Chương ..và các GM đồng hội đồng thuyền với cách sống, cách hành xử, cách nói năng theo đuôi quyền lực thế gian,hay kiểu nước đôi, lập lờ, thái độ “vô can”, hoặc vọng ngôn, kích động (như quy kết trang NVCL thế này thế nọ…mà không thể được được cái đúng, cái công bình của mình), là những GM, LM dùng giáo quyền để áp chế, để xúc xiểm và “chế biến” sự thật ể lừa đảo giáo dân cả tin, thiếu hiểu biết . Họ hành xử không thực sự thương ứng với sứ mệnh, với chân lý mà nhờ vào đó họ có tiếng nói trên cao, có xe đưa rước, có nêm ấm chăn êm,,,,
NHững GM tốt, những chủ chăn lành vẫn còn gặp sự ương ngạnh và chống đối của vài cấp dưới, là vì cấp dưới ấy là bạn hữu, hay là kẻ đồng quan điểm , đồng hội đồng thuyền của các GM tai tiếng ở trên…, hoặc cấp dưới ấy là kẻ quá tự tin vào chữ nghĩa của mình, ngấm ngầm tự cao tự đại…
Tuy nhiên, vàng thật không sợ lửa, người hại như phấn dồi một lát rồi bay mất, người chủ chăn trung tin , đạo đức luôn luôn đạt được sự yêu mến và đồng thuận cũa số đông, dẫu rằng số đông ấy không phải là thiểu số mê mệt quyền lực…
Tôi có vài người bạn hiện là linh mục, trước đây chưa là linh mục thì anh em ngọt xớt. Khi thụ phong rồi thì gặp tôi nhiều khi không muốn chào hỏi, về sao tôi nghiệm rằng phải chào họ trước thì mới có thể bắt chuyện được. Nhiều khi tôi thấy những người này lấy chức linh mục làm hàng rào ranh giới giữa giáo dân và linh mục. Trước đây gọi điện thoại thăm hỏi thì trả lời ngay, bây giờ thì gọi để lại lời nhắn 2 hay 3 tuần sau mới gọi lại cho mình với giọng anh cả khó nghe vô cùng. Bây giờ, tôi quyết định không làm phiền họ nữa, coi như tình bạn bè bấy lâu nay coi như không còn. Đáng tiếc thật.
Ôi, cái “đức khiêm tốn ” ở thế gian nầy, người ngoài đời có đầy dẫy, mà người đi tu không có được cái đức nhỏ bé ấy thì làm sao đạt tới đức cao trọng hơn?
anh Vănnguyễn nói hơi quá rồi, chẳng có cây nào là không có sâu cả, chẳng có con người nào là thiện toàn cả. Tôi đồng ý với anh những gì anh nói có lẽ cũng có một phần sự thật nhưng đâu phải tất cả như vây!. Giả sử có như vậy thì trước hết anh xem mình đã làm được gì chưa, anh đã giúp các linh mục đó điều gì chưa, anh đã dành thời giờ cầu nguyện cho các linh mục đó một phút giây nào chưa?Đúng, lúa đã chín đầy đồng, cần có các linh mục thánh thiện muốn được như vậy thì anh hãy cầu nguyện trước hết. Chúc anh vui.
Điều mà mọi người còn trân trọng các tu sỹ nói chung là vì họ sống đời sống độc thân, trinh khiết. Nếu họ sống hình thức độc thân nghĩa là có dan díu thì không còn ai kính, nể, trọng nữa. Điều này đã xảy ra nhiều rồi.
Ai đó đã chọn lý tưởng đời mình làm tu sỹ thì cố theo gương Chúa Kito, đấng là linh mục thượng phẩm. Đừng đòi hỏi vừa là tu sỹ vừa sống bậc gia đình. Không ai bắt mình làm tu sỹ cả.
Đời sống độc thân là một chọn lựa của người muốn chọn đời sống linh mục. Đơn giản anh muốn làm thông dịch viên thì phải học ngoại ngữ. Không thể ăn lương thông dịch viên mà không học ngoại ngữ được. Cũng vậy, nếu anh muốn làm linh mục, thì anh phải sống đời độc thân. Nói theo cách hình tượng bên ngoài, ai cũng thấy và ai cũng biết, trái điều ấy là không được làm linh muc. Nhiều người là linh mục nhưng không trọn vẹn điều kiện ấy, thì đời sống của chính họ tư nhiên không nhận được sự rung cảm của một đời sống tinh tuyền. Quà tặng đời dâng hiến đã bị mất một phần thưởng từ Thiên Chúa. Giáo dân nên thương họ nhiều hơn là oán trách. Nếu họ ăn năn sám hối thật sự thì Thiên Chúa sẽ trả lại ân sủng mà Ngài đã ban, và giáo dân cũng nên trả lại lòng ngưỡng mộ cho họ. Nếu họ không ăn năn , thì ân sũng của họ càng lúc càng bị hao mòn, đó là sự khổ đau tự bên trong mà chí họ tự biết.
Mỗi người đều có sứ mệnh từ trời, ai cũng có và bình đẳng, không có chuyện chỉ có linh mục mới có sứ mệnh của Trời. Đó là cách nghĩ suy hoang đường, làm hạ thấp phẩm cách con người được Thiên Chúa tạo dựng. Vì thế mỗi người phải làm tròn ơn gọi của chính mình chọn lựa, và những điều kiện đời sống mà mình đã chọn. Có như thế sự liên thông với Trời trở nên trọn vẹn. Ân sủng cũng từ đó tuôn tràn, để hiều rằng con người là bình đẳng trước Thiên Chúa, nhưng mỗi người chọn một phận vụ trên trần thế. Mọi phận vụ con người chọn lựa trên trần thế đều bình đẳng, vì tự trong bản chất con người được dựng nên bình đẳng
Ý kiến của các anh chị mặc dù chưa có sự kiểm chứng nhưng nhìn ở một khía cạnh, một góc độ nào đó cũng đã toát nên một vấn nạn hay nói đúng hơn là một trăn trở của Giáo hội Công giáo nói chung, Giáo hội Công giáo Việt Nam nói riêng và cũng là của mỗi người Kitô hữu đó chính là “đời sống các Linh Mục, tu sĩ hiện nay”.
Không phải LM là người khi sinh ra đã được Chúa chọn làm LM. Các ngài phải trải qua một quãng thời gian thử thách, học tập rèn luyện và nhất là việc cầu nguyện tìm ý Chúa. Những điều đó xin phép không nói nhiều ở đây vì chắc chắn ai cũng biết, đặc biệt là các LM, tu sĩ. Điều muốn nói đến ở đây chính là đời sống các LM, tu sĩ hiện nay dưới con mắt của giáo dân.
Lúc còn nhỏ, khi chưa thụ phong LM thì là bạn bè, anh em, những khi các ngài đã được lãnh nhận chức vụ cao trọng thì các ngài nhận được sự kính trọng của mọi người là tất yếu. Nhưng để sự kính trọng đó xuất phát từ trong tâm hồn mỗi người thì phải nhìn vào đời sống của các LM.
Chắc không ít người trong tôn giáo anh em và cả chúng ta nữa đều đã đặt câu hỏi: Tại sao các LM được kính trọng? Xin thưa đó là vì các ngài đã tận hiến cho Chúa để phục vụ Giáo hội, mà Giáo hội thì trong đó có chúng ta (những giáo dân). Vậy thực tế các LM đã sống và giữ luật độc thân ra sao ? Luật độc thân linh mục hiện nay đang gặp những trở ngại đôi khi rất trầm trọng, trong các điều kiện chủ quan và khách quan của LM, nhưng không phải vì vậy mà các LM có quyền được sống theo lối sống khác hay lấy đó làm lý do để biện minh cho những bê bối trong đời sống của mình.
Giáo dân kính trọng các LM vì các ngài đã khấn giữ đức khiết tịnh, vâng lời ….. trong các đức tính đó thì đức khiết tịnh, sống độc thân là rất cao quý vì phải quên mình để phục vụ: “Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì. Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa. Họ tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời. Họ tìm cách làm đẹp lòng vợ. Thế là lòng họ bị chia đôi.” (1 Cr 7,32-34).
Vì vậy khi LM lỗi phạm đức khiết tịnh, lỗi phạm luật sống độc thân thì sẽ bị xem như không bằng một giáo dân. Các LM đã làm mất đi sự kính trọng, vâng phục trong cộng đoàn. Tại sao vậy? Tại vì:
Nói về đạo đức thì cũng có rất nhiều người giáo dân họ đạo đức lắm chứ.
Sống khiêm nhường, vâng phục: Trong cộng đoàn giáo xứ nào cũng có các giáo dân như vậy. v.v và v.v.
LM là người được giáo dân tin tưởng chia sẻ (cả khi ở toà cáo giải và đời thường) nhưng nếu mất lòng tin nơi họ thì họ sẽ còn tin ai? nhất là những người không có nền tảng giáo lý và đức tin thì họ sẽ đánh đồng tất cả các LM đều như vậy. Điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn tới Giáo hội.
Không chỉ các LM, các tu sĩ, chủng sinh cũng vậy. Hiện nay có không ít các chủng sinh không tự rèn luyện sống luật độc thân. Các chủng sinh là người đang trong thời kỳ thử thách, học tập, rèn luyện để tiến lên lãnh nhận sứ vụ LM, vậy nhưng có chủng sinh đã không giữ trọn luật thì liệu rằng sau này nếu trở thành LM thì sẽ ra sao?
Đành rằng con người là yếu đuối mỏng giòn và nhất là phải sống trong môi trường xã hội đầy những cám dỗ, trong thời đại thông tin bùng nổ, ngồi trong phòng với một máy tính nối mạng cũng có thể truy cập bất kể những gì mình muốn thì quả là không dễ giữ luật độc thân, nhưng xin các LM, tu sĩ nhớ tới lời khấn hưa khi tiến tới bàn Thánh và nhớ rằng trình độ dân luật và dân trí trong các Kitô hữu hiện nay đã phát triển song song cùng với sự phát triển của xã hội. Mong rằng các ngài hãy giữ lấy sự trong sáng, khiết tịnh, đơn sơ trong con mắt của các Kitô hữu. Muốn được như vậy các ngài hãy sống như Thượng HĐGMVN đã nói: “… nếu tạo ra những điều kiện thích đáng, nghĩa là tăng thêm cố gắng sống đời nội tâm, nhờ cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, từ bỏ, mến Chúa, yêu người và những trợ giúp khác để tạo nên thế quân bình trong các mối tương giao với giáo dân, linh mục, giám mục, các đoàn thể trong giáo xứ và cộng đồng tín hữu “.